Thứ Sáu, ngày 29 tháng 8 năm 2014

LƯỚI THÉP HÀN XÂY DỰNG

Lưới thép hàn TT được sử dụng trong các kết cấu bê tông cốt thép như:
    - Sàn nhà xưởng
    - Mái bê tông
    - Móng
    - Đường bê tông
    - Cầu
    - Hệ thống mặt bằng sân bay
    - Cầu cảng
    - Bể bơi
    - Mái che hầm mỏ
    - Vỉa hè
    - Hệ thống cống rãnh
    - Các cấu kiện bê tông đúc sẵn…
NHỮNG LỢI ÍCH KHI SỬ DỤNG LƯỚI THÉP HÀN TTKhi sử dụng, lưới thép hàn TT sẽ đem đến cho khách hàng những lợi ích như sau:
    - Sản phẩm có độ chính xác cao
    - Chất lượng sản phẩm tốt và ổn định
    - Khả năng chống nứt bề mặt tốt
    - Thay thế thép rời hiệu quả và giảm tối đa khối lượng thép sử dụng
    - Tiết kiệm thời gian thi công
    - Giảm hao hụt và tiết kiệm chi phí nhân công
    - Vận chuyển và lắp đặt dễ dàng
    - Đảm bảo sự liên tục và rút ngắn tiến độ thi công
HÃY LIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI: 06503 772 628/629 để biết thêm chi tiết




Thứ Năm, ngày 26 tháng 6 năm 2014

SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY SẮT THÉP ĐẶNG NGUYỄN




Sản Phẩm Thép Hình Mới Sắp Tung Ra Thị Trường

Việt Nam nghiên cứu chế tạo thành công thép hình chữ I cỡ trung ( I No15)
Đăng ngày: Thứ năm 22/05/2014 16:35 GMT+7
Những năm gần đây, Việt Nam đã nghiên cứu chế tạo thành công thép hình chữ I cỡ trung hạn chế phải nhập ngoại một lượng khá lớn các loại thép hình để cung cấp cho các công trình xây dựng và chế tạo cơ khí, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ và góp phần ổn định giá sắt thép trong nước.
Qua đánh giá thực tế năng lực sản xuất của dây chuyền cán thép tại Công ty gang thép Thái nguyên, Công ty này đã tiến hành nghiên cứu tính toán, thiết kế và xác lập quy trình công nghệ sản xuất thép hình I:
Thép hình
+   Lưu trình công nghệ cán sản phẩm I  từ phôi đúc liên tục 150x150, mác thép BCT38 gồm các bước như sau:
  • Chuẩn bị phôi;
  • Cắt đoạn phôi;
  • Kiểm tra chất lượng phôi: Thành phần hóa học phôi phải đạt TCVN1765-75; Chất lượng bề mặt phôi phải đạt TCGT 008-2006;
  • Nạp phôi vào lò;
  • Nung phôi:  Sử dụng lò nung liên tục HD09.05; Phôi thỏi thép cacbon kết cấu mác BCT38 và tương đương; Nhiệt độ các vùng khống chế: vùng sấy: 800-850oC, vùng nung: 1200-1250oC, vùng đều nhiệt: 1150-1200oC, vật nung ra lò: 1150-1200oC;
  • Ra phôi;
  • Cán thép (trên 3 giá cán 650, gồm 9 lỗ hình);
  • Cưa đoạn sản phẩm;
  • Làm nguội sản phẩm;
  • Tinh chỉnh nắn thẳng;
  • Kiểm tra chất lượng sản phẩm;
  • Bao gói sản phẩm, nhập kho.
+    Quy trình công nghệ sản xuất thép hình I cũng được xác lập. Trong đó, giải pháp công nghệ là:  Phôi đúc liên tục 150x150 mác BCT38 được cắt theo kích thước thiết kế, đưa vào lò nung liên tục 3 vùng, khi phôi đạt nhiệt độ 1150oC-1200oC được đẩy ra khỏi lò nhờ máy đẩy 40 tấn và máy tống ngang, vật cán di chuyển nhờ hệ thống con lăn, ở giá cán 1 cán 5 lần, ở giá cán 2 cán 3 lần, ở giá cán 3 cán 1 lần đạt được kích thước thành phẩm. Sau đó, phôi được cưa đoạn tại máy cưa nóng Ø1500, rồi đưa lên làm nguội tự nhiên trên sàn nguội. Tiếp theo, sản phẩm được nắn thẳng tren máy nắn kiểu trục (A600). Cuối cùng, thành phẩm được phân loại, đóng gói gắn nhãn mác và cân, nhập kho.
Với Quy trình công nghệ sản xuất trên, công ty GTTN đã thành công trong sản xuất thép hình I  từ phôi đúc liê tục 150x150, đã mở ra một hướng phát triển sản xuất các loại thép hình cỡ trung và cỡ lớn khác để phục vụ nhu cầu thị trường, giải quyết khó khăn và hạ giá thành các công trình xây dựng và cơ khí chế tạo trong nước do lâu nay vẫn phải nhập khẩu, tạo điều kiện để phát triển sản xuất ngành vật liệu thép của nước nhà.

Tình Hình Thị Trường Sắt Thép

Doanh nghiệp thép: Bất đồng do đâu?
Đăng ngày: Thứ năm 19/06/2014 16:03 GMT+7
Từ việc bí đầu ra trong thời gian qua, các doanh nghiệp (DN) sản xuất và kinh doanh trong ngành thép đã đưa ra một số quan điểm trái ngược nhau. DN thì kiến nghị Chính phủ nên tiếp tục cho xuất khẩu (XK) quặng sắt nhưng cũng có DN lại kêu “đói” nguyên liệu. Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) cũng đã lên tiếng về vấn đề này.
Khu sản xuất thép của Công ty Gang thép Thái Nguyên
Khu sản xuất thép của Công ty Gang thép Thái Nguyên
CôngThương - Những kiến nghị... trái chiều

Theo một số DN sản xuất thép bằng lò điện (dùng thép phế), giá quặng sắt trong nước đã giảm từ 2.200 đồng/kg xuống còn 1.200 đồng/kg (bằng 1/2 giá thế giới năm 2013). Chủ trương của Chính phủ dừng XK quặng sắt đã tạo cho DN sản xuất thép bằng lò cao được hưởng lợi.

Theo đó, 13 DN đang sản xuất thép bằng lò điện có kiến nghị tới VSA, mong muốn các bộ, ngành xem xét lại chủ trương cấm XK quặng sắt, để giá quặng trong nước ngang bằng giá thế giới, tạo sự công bằng giữa các DN sản xuất thép trong nước.

Thế nhưng, ngày 2/6/2014, Công ty CP Thép Hòa Phát cùng 5 DN khác đã ký công văn gửi VSA, cho rằng hiện nay 15 lò cao thuộc 14 dự án của các DN đang sản xuất có tổng nhu cầu quặng sắt khoảng 4.550.000 tấn/năm. Nếu tính cả các dự án dự kiến cuối năm 2014, năm 2015 đưa vào hoạt động thì tổng nhu cầu quặng sắt khoảng 18.814.000 tấn/năm.

Đó là chưa tính tới các dự án đang nằm trong quy hoạch phát triển của ngành thép tới năm 2020, có xét đến năm 2025 đã được phê duyệt.

Vì vậy, lượng quặng sắt để phục vụ cho lò cao trong tương lai rất lớn, trong khi trữ lượng quặng không nhiều, nên dễ dẫn tới thiếu quặng, DN phải nhập khẩu. Vì vậy, thép Hòa Phát và 5 DN đề nghị các cơ quan chức năng sớm đẩy mạnh các dự án khai thác quặng lớn như mỏ sắt Thạch Khê để đáp ứng nhu cầu quặng cho sản xuất thép lò cao.

Ông Hồ Nghĩa Dũng- Chủ tịch VSA:

Nhà nước cần tăng cường quản lý bằng việc thanh tra, kiểm tra những hoạt động của các DN khai thác và DN sử dụng quặng sắt đúng với quy định hiện hành.


Hiệp hội Thép nói gì?

Ông Nguyễn Văn Sưa- Phó Chủ tịch VSA- cho rằng, những kiến nghị của một số DN về việc xem xét cho XK quặng sắt là điều không thể, nếu làm vậy sẽ đi ngược với chủ trương của Chính phủ. Trong khi đó, Việt Nam không giàu quặng sắt. Quặng sắt cần được bảo vệ và khai thác có hiệu quả, nhằm đáp ứng nhu cầu cho sản xuất thép trong nước.

Theo thống kê địa chất, tổng trữ lượng tài nguyên về quặng sắt của Việt Nam hiện chỉ khoảng 1 tỷ tấn, trong đó có 2 mỏ lớn nhất là: Mỏ Thạch Khê có trữ lượng khoảng 500 triệu tấn, chưa đưa vào khai thác; mỏ Quý Sa có trữ lượng khoảng 120 triệu tấn, đã được khai thác. Ngoài ra, còn một số mỏ khác nằm rải rác tại các địa phương có trữ lượng nhỏ, hàm lượng sắt thấp. Thực tế đó cho thấy, tài nguyên quặng sắt của Việt Nam rất nghèo, thậm chí chất lượng không tốt, không đủ đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất thép trước mắt và lâu dài.

Theo VSA, các DN đầu tư vào xây dựng lò cao đã có nỗ lực rất lớn bởi suất đầu tư cao hơn gấp 3- 4 lần so với lò điện thông thường. Đây là những DN sản xuất thép trong nước đi đầu trong đầu tư có chiều sâu vào các công đoạn sản xuất mang tính “thượng nguồn” của ngành công nghiệp luyện kim là sản xuất phôi thép từ quặng sắt bằng công nghệ lò cao, nhằm tận dụng nguồn nguyên liệu quặng sắt tại chỗ để sản xuất thép có giá cạnh tranh.

Tuy nhiên, để tạo sự bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh giữa các DN trong ngành thép, chính các DN phải tự cân đối. Nếu cung vượt cầu, DN cần tìm hướng cho mình bằng việc XK sản phẩm, không nên cạnh tranh bằng việc hạ giá bán quá thấp, ảnh hưởng tới các DN trong ngành.

Kim Tuyến

Thứ Ba, ngày 24 tháng 6 năm 2014